Câu chuyện về sự thay đổi


Đăng lúc: 15:05:04 12/05/2016 - Đã Đọc: 1706
Sự vươn lên thoát nghèo là câu chuyện của những người dân cần cù, chịu khó, đầy ý chí nghị lực vùng địa bàn dự án ở hai xã Thanh Vận và Mai Lạp, huyện Chợ Mới, Bắc Kạn. Nhờ có sự hỗ trợ kỹ thuật của các cán bộ Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Nông Lâm nghiệp miền núi phía Bắc (ADC) mà cuộc sống của người dân nơi đây đã phần nào được cải thiện. Sau đây là hai câu chuyện điển hình về người dân vùng dự án nơi đây.

CÂU CHUYỆN VỀ CHỊ THANH

     Gia đình chị Trần Thị Thanh (50 tuổi) cũng như những gia đình khác trong thôn Khuổi Đác, xã Mai Lạp, Bắc Kạn đều là người dân tộc Dao từ các tỉnh khác (Lạng Sơn, Cao Bằng) di cư về đây sinh sống. Sinh ra và lớn lên tại Cao Bằng, đến tuổi đôi mươi, chị đã quen và lấy anh bộ đội người Gia Lai khi anh đóng quân ở địa bàn nơi chị sinh sống.  Chị chuyển vào làm dâu ở Gia lai và rất không may chồng chị đã qua đời trong một tai nạn giao thông.  Không chấp nhận được phong tục ở đó  (Chị phải lấy em trai của chồng sau khi chồng mất) chị bỏ trốn khỏi gia đình chồng trong một đêm giông bão và chuyển từ Gia Lai về thôn Khuổi Đác xã Mai Lạp từ năm 2000 với 2 đứa con nhỏ và đang mang bầu đứa thứ 3 (cho đến nay gia đình chồng cũng không biết chị đi đâu).

     Lúc mới chuyển về, gia đình chị gặp rất nhiều khó khăn trong việc định cư và làm kinh tế vì không có cả đất ở và đất canh tác. Chị đã làm tạm một cái lán ở khu vực chăn thả, đây là một trong những khu đất chung, xa khu dân cư nhất mà không ai sử dụng lúc bấy giờ.  Rồi chị đón mẹ già từ Cao Bằng về ở cùng để cùng nương tựa chăm sóc lẫn nhau. Lúc đầu khi gia đình chị muốn trồng trọt hay canh tác gì đều bị người dân gốc trong thôn bên cạnh không cho phép làm vì họ nói đây là mảnh đất của cha ông họ. Dần dần họ cũng thương tình hoàn cảnh của chị, chị và các con đã khai phá được 3000m2 đất đồi trồng ngô,  đây là nguồn thu chính của gia đình chị trong một thời gian dài, bởi gia đình chị không có diện tích đất nào có thể trồng lúa nước. Với nguồn thu nhập ít ỏi, trong khi gia đình chị có tới 5 miệng ăn, 3 đứa con của chị lại đang đi học, mẹ già đã ngoài tám mươi tuổi không còn khả năng lao động, không giúp gì được cho chị, chị phải bươn trải khắp nơi, lúc trong xã, ngoài huyện, lúc ở tỉnh khác, ai thuê mướn gì chị làm thứ đó nhưng cái đói, cái nghèo cứ đeo bám mãi lấy gia đình chị.

     Mấy năm gần đây, theo chương trình định canh định cư, gia đình chị được Ủy Ban xã cấp đất để làm nhà (có sổ đỏ). Đất xung quanh nhà chị trước đây vốn là khu chăn thả chung, sau này quy hoạch lại những khu chăn nuôi này để giao lại cho dân và gia đình chị cũng được cấp hơn 10ha đất rừng từ sự trợ giúp của dự án ADC (gia đình chị đã có sổ đỏ đất lâm nghiệp).

    Từ ngày có đất chính thức, gia đình chị yên tâm canh tác và làm kinh tế.  Chị đã tham gia các lớp tập về kỹ thuật làm vườn ươm và trồng rừng, chị đã trồng được hơn 1 ha cây mỡ. Hi vọng trong 10 năm tới chị có thể thu được vài chục triệu đồng từ diện tích rừng trồng đó. Bên cạnh đó, chị còn được tập huấn, nghiên cứu về vai trò của kiến thức bản địa và tác động của biến biến đổi khí hậu tới cuộc sống của chị và cộng đồng, chị hiểu được những khó khăn chị và cộng đồng đang và sẽ phải trải qua do tác động của biến đổi khí hậu gây ra nơi đây, đặc biệt với những hộ không có đất ruộng như gia đình chị. Chị đã đi đầu trong cách bảo vệ đất trên nương ngô nhà mình, để canh tác bền vững trên đất dốc, chị đã áp dụng phương pháp làm đất tối thiểu mà chị và cộng đồng đang vốn đã làm cộng thêm việc lấy thân cây ngô để che phủ chống xói mòn và giữ ẩm, năng suất ngô của nhà chị trong vụ mùa năm 2011 đã tăng gần 1 tạ trên diện tích 3000m2

     Bên cạnh cây ngô, biết thế mạnh của mình là đất dốc, nên trong chương trình hỗ trợ xây dựng các mô hình cây trồng nông nghiệp thích ứng với biến đổi khí hậu của trung tâm ADC, năm 2011 chị cùng 4 hộ trông thôn đã tự nguyện đăng ký thực hiện mô hình cây chuối trên đất dốc. Mô hình nhà chị thực hiện với diện tích 1 ha, và đầu năm 2012 tiếp tục trồng xen gừng vào diện tích trồng chuối đó. Được hỗ trợ một phần giống, được tập huấn kỹ thuật theo phương pháp cầm tay chỉ việc ngay trên mô hình nhà mình, kết hợp với những kinh nghiệm sẵn có do ở đây gia đình nào cũng trồng một vài khóm chuối, khóm gừng sử dụng trong gia đình, nên chị cùng 4 hộ khác trong thôn khuổi Đác đang chăm sóc rất tốt mô hình của mình, hứa hẹn một vụ bội thu.

    Chị chia sẻ: “chị và người dân nơi đây rất phấn khởi với cách hỗ trợ, giúp đỡ của dự án ADC, giờ đây nhìn mô hình chuối xen gừng nhà chị chưa đến lúc thu hoạch, nhưng sẽ hứa hẹn một mùa bội thu vào cuối năm nay.  Chuối giờ cây nào, cây đấy đều xanh tốt, đang trổ buồng, đất đai được bảo vệ, không bị xói mòn do đã có lớp cây gừng che phủ dưới tán chuối chưa khép. Chị tính với giá bán như hiện nay 5,000 đồng/kg chuối, và 10,000đ/kg gừng, thì với năm ra bói đầu tiên của chuối, gia đình chị cũng thu về hơn chục triệu đồng sau khi trừ đi chi phí, đây quả là con số không hề nhỏ, và có lẽ sẽ giúp gia đình chị thoát khỏi diện hộ nghèo trong năm tới”.

     Giờ chị đã ít đi làm thuê, làm mướn mà tập trung thời gian để chăm sóc mô hình chuối xen gừng nhà mình. Hiện giờ con đường liên xã mới mở chạy qua gần khu đất mô hình trồng chuối của nhà chị, nên không chỉ những người trong thôn, xã đến hỏi chị về kinh nghiệm và kỹ thuật xây dựng mô hình mà ngay cả những người đi đường khi nhìn thấy cũng đã tìm đến gặp chị để được nghe chị chia sẻ. Với những kinh nghiệm có được, chị không không ngần ngại, mà nhiệt tình chia sẻ với tất cả mọi người, đặc biệt với các chị phụ nữ, những gia đình cũng có hoàn cảnh nghèo khó như chị. Chị có mong muốn nhân rộng mô hình sang diện tích còn lại của nhà chị và cùng vận động các hộ trong thôn, xã cùng thực hiện như mình để có thể tạo ra một sản phẩm đặc trưng cho địa phương, người dân dần dần thoát nghèo.

    Là một cán bộ dự án, từng bước dõi theo sự thay đổi của chị, tôi mong muốn và cầu chúc cho ước mơ của chị trở thành hiện thực. Tôi tin vào nghị lực của chị và vào một ngày không xa chị sẽ trở thành một điểm sáng đại diện cho người dân tộc Dao nơi đây về mô hình làm giàu chứ không chỉ dừng ở mức thoát nghèo. Cuộc sống nghèo khổ hơn nửa đời người mà chị đã trải qua đã đến lúc kết thúc để sang một trang mới với với niền hạnh phúc no ấm đủ đầy.

 

CÂU CHUYỆN VỀ ANH HẢI-NÀ KHAM

      Vào một ngày hè cuối tháng 5, khi trở lại Bắc Kạn chúng tôi đã được gặp một trong những người đã tích cực tham gia các hoạt động dự án tại xã Thanh Vận, huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn. Xuất thân từ một gia đình dân tộc thiểu số nghèo của tỉnh Bắc Kạn, anh Lý Hồng Hải- một trưởng thôn gương mẫu, luôn đi đầu trong các phong trào, hoạt động phát triển kinh tế trong thôn bản. Năm nay, anh Hải vừa tròn 52 tuổi nhưng tóc anh đã bạc và trông anh già hơn cái tuổi 52 của mình rất nhiều. Mặc dù là người khuyết tật, mắt phải của anh bị hỏng do tai nạn cách đây hơn hai mươi năm, nhưng bản thân anh vẫn phải là trụ cột trong gia đình có 5 người (anh Hải, vợ và 3 con gái). Vợ anh bị chứng rối loạn tiền đình đau ốm liên miên, các con anh còn nhỏ, đứa con lớn của anh mới học lớp 8 và đứa con gái thứ hai 11 tuổi bị khuyết tật bẩm sinh phải học tập tại Trung tâm giáo dục Cộng đồng tỉnh Bắc Kạn. Cô con gái thứ ba mới bước vào lớp 1. Là trụ cột và cũng là lao động chính duy nhất trong gia đình, anh Hải luôn phải gánh vác tất cả mọi việc nặng nhọc để kiếm tiền nuôi con ăn học và trang trải cuộc sống.

    Vốn sống gần rừng nhưng nhà anh chỉ có 0,3 ha đất rừng, nên cuộc sống chủ yếu dựa vào canh tác lúa nước với 2800 m2 và chăn nuôi gà để cải thiện bữa ăn. Diện tích trồng lúa vốn đã ít nhưng gần 1000 m2 của nhà anh chỉ có thể gieo cấy vào vụ mùa và vụ xuân bỏ hoang một phần do khô hạn thiếu nước sản xuất. Và vụ đông thì nhà anh cũng như tất cả các gia đình khác đều bỏ trắng đồng, không canh tác do khí hậu lạnh. Do đó thu nhập của gia đình anh rất thấp, không đảm bảo cho cuộc sống hàng ngày.  Tổng thu nhập của gia đình từ trồng trọt, chăn nuôi, khai thác lâm sản chỉ đạt khoảng 12 -15 triệu đồng/năm, nên cái đói, cái nghèo cứ đeo bám mãi lấy gia đình anh.

      Từ năm 2011, anh Hải cũng như các hộ nghèo và cận nghèo khác của thôn Nà Kham đã tích cực tham gia các mô hình sản xuất nông nghiệp thích ứng với biến đổi khí hậu dựa vào kiến thức bản địa do Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Nông Lâm nghiệp miền núi (ADC), Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên hỗ trợ triển khai trên địa bàn xã.  

      Bước đầu sau khi được tập huấn và cùng thực hiện nghiên cứu về tác động của biến đổi khí hậu và vai trò của kiến thức bản địa trong sản xuất nông nghiệp, ngoài canh tác cây lúa truyền thống, anh đã mạnh dạn đi đầu và vận động cùng với 17 hộ khác trong thôn tham gia xây dựng mô hình cây khoai tây thích ứng rét trong vụ đông 2011 trên diện tích đất mà bấy lâu nay gia đình anh và cộng đồng bỏ hoang trong vụ đông. Áp dụng một phần kinh nghiệm có sẵn do trước đây anh cũng đã từng trồng làm rau xanh trong vườn và kết hợp áp dụng khoa học kỹ thuật từ các lớp tập huấn, sau 3 tháng xây dựng mô hình, gia đình anh đã thu được khoảng 2 triệu đồng từ 300 m2 khoai tây sau khi trừ chi phí sản xuất, đây là con số thu nhập đáng kể trên 300 m2 đất.

Description: C:UsersHATHIH~1AppDataLocalTempRar$DR35.992IMG_4048.JPGĐầu năm 2012, gia đình anh và 24/43 hộ thôn Nà Kham lại tiếp tục tham gia thực hành trồng đỗ xanh trong điều kiện chống chịu hạn, thích ứng biến đổi khí hậu do trung tâm ADC hỗ trợ. Gia đình anh sử dụng giống đỗ xanh mốc địa phương mà người dân nơi đây chủ yếu sử dụng trồng tròng vườn, nương rẫy. Với gần 1000 m2 đất 1 vụ anh thử nghiệm trồng 200 m2  đỗ xanh. Sau hơn hai tháng thực hiện mô hình, hiện nay đỗ xanh đang cho thu hoạch ở lứa thứ 3,  anh ước tính với giá hiện nay khoảng 30.000-35.000đồng/kg thì anh cũng thu được khoảng 1,5 triệu đồng sau khi trừ chi phí. Đó là một con số không nhỏ cho thu nhập của gia đình trên 200 m2 đất. Trước đây nếu muốn thu được 2 triệu đồng từ đỗ xanh thì phải trồng trên diện tích 1000 m2 trên nương. Cũng từ kinh nghiệm xen canh, nên trong ruộng đỗ xanh nhà anh còn trồng thêm một ít ngô để thu hoạch ngô non làm thực phẩm và giải phóng đất kịp thời để cấy lúa vụ mùa.

Anh đánh giá:. “Từ khi áp dụng các mô hình sản xuất do dự án hỗ trợ và được áp dụng đúng biện pháp khoa học kỹ thuật, cây khoai tây và đậu xanh đã phát triển tốt hơn so với biện pháp canh tác truyền thống trước đây, khoai tây được trồng một ít trong vườn chỉ bổ hốc và bỏ củ xuống, đỗ xanh thì chọc lỗ, tra hạt, không bón phân, chăm sóc nên cho năng suất thấp. Các mô hình được dự án hỗ trợ kỹ thuật phát triển tốt do người dân được khuyến khích ủ phân vi sinh từ phân chuồng và phế phụ phẩm nông nghiệp, hạn chế bón phân hóa học nên cây lên tốt, cho nhiều củ quả, ít sâu bệnh, số lần thu hái của đỗ xanh cũng tăng lên gấp đôi (4-5 lần thu hái). Sau khi trồng các mô hình do dự án hỗ trợ kỹ thuật, các cây trồng vụ sau lên tốt hơn hẳn và ít sâu bệnh”

        Giờ đây, cuộc sống của gia đình anh đã đỡ vất vả hơn, với việc chăm sóc đậu xanh và khoai tây không vất vả như đi vào rừng lấy củi bán hoặc đi khai thác gỗ thuê, vợ anh có làm cùng anh. Tuy chỉ mới thoát nghèo lên cận nghèo, nhưng anh đã có một kế hoạch cho sự phát triển nhân rộng mô hình đậu xanh trên toàn bộ diện tích 1 vụ hiện nay anh đang bỏ hoang, và tăng diện tích trồng cây khoai tây trong vụ đông. Đồng thời tích cực chia sẻ kinh nghiệm của anh và vận động các hộ khác cùng tham gia thực hiện mô hình như hộ nhà anh. Với kế hoạch đó tôi tin rằng một ngày không xa, gia đình anh sẽ không chỉ thoát nghèo và còn trở nên khấm khá hơn, con cái của anh cũng được học hành, chăm sóc đầy đủ như mong ước của anh và bao gia đình khác nơi đây.

Những tin cùng chuyên mục

Nhà tài trợ và Đối tác tài trợ